Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

 

PHÙ MẠCH DI TRUYỀN

Phù mạch di truyền là một bệnh di truyền ít gặp. Sự sai hỏng của các gene liên quan đến kiểm soát quá trình tạo bradykinin dẫn tới những đợt phù nề do bradykinin dư thừa làm giãn và tăng tính thấm mạch máu, gây ứ đọng dịch trong mô. Mặc dù có vẻ lành tính, đây lại là một bệnh nguy hiểm, vì tình trạng phù nề đột ngột nhanh chóng nếu xảy ra ở đường thở sẽ gây ngạt thở, có thể dẫn tới tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

CHẨN ĐOÁN PHÙ MẠCH DI TRUYỀN

Biểu hiện sưng phù của phù mạch di truyền đa dạng: sưng phù khu trú ở một vùng cơ thể, hoặc tình trạng đau bụng (do phù ruột), hoặc khó thở (do phù nề đường thở). Tình trạng này xuất hiện nhanh, tự phát hoặc khi có yếu tố kích gợi, thường không ngứa. Triệu chứng thường kéo dài 3 đến 5 ngày, sau đó thoái lui. Bệnh có thể biểu lộ từ rất sớm, lúc 2 -3 tuổi. Đa số khởi bệnh trước tuổi 20.

Hình: Các vị trí biểu hiện triệu chứng trong phù mạch

(https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2681197?utm_source=pinterest&utm_medium=social_jama&utm_term=1534736842&utm_content=followers-article_engagement-illustration_medical&utm_campaign=article_alert&linkId=51734304)

 

Vì tình trạng phù nề có thể gặp trong nhiều bệnh khác như dị ứng, cần thực hiện xét nghiệm để chẩn đoán bệnh. Một xét nghiệm quan trọng trong bệnh lý này là xét nghiệm C1-INH trong máu. Dựa vào hoạt tính của C1-INH, phù mạch di truyền được chia thành 3 nhóm: loại 1 (C1-INH máu giảm), loại 2 lượng C1-INH bình thường nhưng bất thường chức năng) và phù mạch di truyền có C1-INH bình thường (bất thường thành phần khác).

Sinh học phân tử đóng góp lớn trong việc chẩn đoán phù mạch di truyền. Giải trình tự gene giúp xác định được gene đột biến gây bệnh. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với phù mạch di truyền có C1-INH bình thường, vì chẩn đoán không thể xác lập chỉ bằng nồng độ C1-INH.

ĐIỀU TRỊ PHÙ MẠCH DI TRUYỀN

Mục đích của điều trị phù mạch di truyền là nhằm tránh nguy cơ tử vong và nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân. Hiện nay điều trị phù mạch di truyền được chia làm 3 nhóm: thuốc điều trị cấp, dự phòng dài hạn và dự phòng ngắn hạn.

Thuốc  điều trị phù mạch di truyền cấp

Các thuốc điều trị  phù mạch di truyền cấp bao gồm Ecallantide, Icatibant (tiêm dưới da) và các chế phẩm C1-INH (truyền tĩnh mạch). Bệnh nhân có thể tự tiêm các thuốc tiêm dưới da tại nhà ngay khi có triệu chứng phù. Theo khuyến cáo, người bệnh nên giữ bên mình 2 liều thuốc để dùng ngay khi cần. Thông thường sưng phù sẽ thoái lui sau khi dùng thuốc từ 120 – 150 phút. Tuy nhiên, khi có sưng phù ở đường thở, hầu họng, lưỡi, người bệnh vẫn cần đến khám ngay tại cơ sở y tế mặc dù đã điều trị ở nhà.

 

Hình: vị trí tiêm thuốc vào mô dưới da

Ghi chú: 1, 2: da, 3: mô dưới da, 4: cơ.

(https://phacdodieutri.com/ky-thuat-tiem-duoi-da/)

Dự phòng dài hạn

Điều trị dự phòng dài hạn có nghĩa là bệnh nhân phải dùng thuốc định kỳ đều đặn. Điều này nhằm đạt được kiểm soát hoàn toàn bệnh – chấm dứt các đợt phù. Các thuốc dự phòng dài hạn gồm: các chế phẩm của C1-INH (tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da), Lanadelumab (tiêm dưới da), Stanozolol (uống), Danazol (uống),... Quyết định dự phòng dài hạn dựa trên tần suất cơn, mức độ nặng, điều kiện kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và mong muốn của người bệnh.

Dự phòng ngắn hạn

Stress và chấn thương là 1 trong các yếu tố kích gợi cơn phù mạch di truyền. Do đó, khi bệnh nhân sắp tiến hành các thủ thuật, phẫu thuật, nội soi ống tiêu hóa, nhổ răng, bác sĩ điều trị có thể sẽ cho thuốc dự phòng ngắn hạn. Các thuốc được dùng cho mục đích này gồm chế phẩm C1-INH hoặc chất đồng hợp androgen.

LƯU Ý DÀNH CHO BỆNH NHÂN PHÙ MẠCH DI TRUYỀN

Tránh các yếu tố kích gợi

Nghiên cứu cho thấy một số yếu tố có thể kích thích cơn phù mạch di truyền, như chấn thương, stress tâm lý, mệt mỏi, thuốc ngừa thai đường uống chứa estrogen, và thuốc ức chế men chuyển,... Do đó người bệnh nên hạn chế tối đa các yếu tố trên. Khi dùng thêm thuốc khác, cần hỏi ý kiến của bác sĩ điều trị và phải điều trị dự phòng ngắn hạn trước khi làm thủ thuật, phẫu thuật.

Tầm soát cho người thân

Phù mạch di truyền là bệnh di truyền trội. Điều này có nghĩa là xác suất 50% thế hệ tiếp theo có thể mắc bệnh. Do đó, cha mẹ, anh chị em, con ruột của bệnh nhân phù mạch di truyền nên được tầm soát bằng xét nghiệm gene để phát hiện và theo dõi bệnh từ sớm.

 

Tài liệu tham khảo

Busse PJ, Christiansen SC, Riedl MA, Banerji A, Bernstein JA, Castaldo AJ, Craig T, Davis-Lorton M, Frank MM, Li HH, Lumry WR, Zuraw BL. US HAEA Medical Advisory Board 2020 Guidelines for the Management of Hereditary Angioedema. J Allergy Clin Immunol Pract. 2021 Jan;9(1):132-150.e3. doi: 10.1016/j.jaip.2020.08.046. Epub 2020 Sep 6. PMID: 32898710.

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32898710/

 

Maurer M, Magerl M, Betschel S, Aberer W, Ansotegui IJ, Aygören-Pürsün E, Banerji A, Bara NA, Boccon-Gibod I, Bork K, Bouillet L, Boysen HB, Brodszki N, Busse PJ, Bygum A, Caballero T, Cancian M, Castaldo A, Cohn DM, Csuka D, Farkas H, Gompels M, Gower R, Grumach AS, Guidos-Fogelbach G, Hide M, Kang HR, Kaplan AP, Katelaris C, Kiani-Alikhan S, Lei WT, Lockey R, Longhurst H, Lumry WB, MacGinnitie A, Malbran A, Martinez Saguer I, Matta JJ, Nast A, Nguyen D, Nieto-Martinez SA, Pawankar R, Peter J, Porebski G, Prior N, Reshef A, Riedl M, Ritchie B, Rafique Sheikh F, Smith WR, Spaeth PJ, Stobiecki M, Toubi E, Varga LA, Weller K, Zanichelli A, Zhi Y, Zuraw B, Craig T. The international WAO/EAACI guideline for the management of hereditary angioedema-The 2021 revision and update. Allergy. 2022 Jan 10. doi: 10.1111/all.15214. Epub ahead of print. PMID: 35006617.

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/35006617/

Tài liệu này được hỗ trợ bởi công ty Takeda

 

I. Đôi nét về lịch sử phù mạch di truyền
Năm 1882, bác sĩ người Đức Henrich Irenaeus Quincke báo cáo về một nhóm bệnh nhân mắc một hội chứng chung đặc điểm: phù khu trú ở nhiều vùng khác nhau của cơ thể, xuất hiện một cách thoáng qua và thường không để lại hậu quả nào nếu không ảnh hưởng đến thanh quản. Xuất phát từ báo cáo này, căn bệnh này đôi khi được biết tới với tên gọi phù “Quincke”.

6 năm sau, bác sĩ William Osler báo cáo về trường hợp của một nữ bệnh nhân 24 tuổi bị phù ở mô mềm, không ngứa tự xuất hiện và tự thoái lui sau 1-4 ngày, có khi kèm theo đau bụng buồn nôn, nôn ói và tái đi tái lại. Điều thú vị là cô có 28 người họ hàng trải dài trong 5 thế hệ mắc triệu chứng tương tự. Các nghiên cứu tiếp theo tiếp tục khẳng định đặc điểm di truyền theo gia đình của cắn bệnh này. Từ đó, căn bệnh này chính thức có tên là “phù mạch di truyền”.

II.   Cơ chế đằng sau phù mạch di truyền

Từ cuối thế kỷ XIX, giới khoa học đã đề xuất cơ chế phù là do mạch máu (giải thích cho tên gọi phù “mạch”). Thành mạch máu của cơ thể có các lỗ nhỏ li ti có tác dụng giúp trao đổi chất giữa dòng máu và mô xung quanh. Trong trường hợp phù mạch, mạch máu giãn ra làm các lỗ li ti này mở rộng quá mức, dẫn tới nước trong máu thấm quá nhiều vào các mô xung quanh, gây ra tình trạng phù.


Hình 1: Sơ đồ cơ chế phù trong phù mạch: trạng thái giãn mạch làm dịch thể (mũi tên xanh liền) từ mạch máu đổ ra các mô xung quanh (khoảng kẽ giữa các tế bào) nhiều hơn dòng dịch quay lại dòng máu (mũi tên xanh đứt quãng), gây ra ứ dịch và phù nề mô xung quanh.

 

Tuy nhiên, nguyên nhân sâu hơn vì sao tình trạng này xảy ra vẫn không được hé lộ cho đến thời đại của sinh học phân tử. Ngày nay, chúng ta biết rằng chìa khóa của bệnh lý này nằm ở men C1-INH. Men này vốn có tác dụng ức chế bradykinin (một chất gây giãn mạch). Chính sự sai hỏng trong DNA dẫn tới giảm số lượng hoặc chức năng của men này, làm tăng nguy cơ tích tụ Bradykinin gây phù mạch khi gặp yếu tố kích thích, và kết quả là gây ra đợt phù mạch.

Dựa vào C1-INH, phù mạch di truyền được chia thành 3 nhóm: (1) phù mạch di truyền với số lượng C1-INH giảm, chiếm khoảng 85%, (2) phù mạch di truyền với chức năng C1-INH giảm, chiếm khoảng 15%, (3) phù mạch di truyền với C1-INH bình thường, chiếm dưới 1%.

 III. Biểu hiện của phù mạch di truyền

Phù mạch di truyền là một bệnh tương đối hiếm, gặp phản với tần suất 1/50 000 dân, không thay đổi theo dân tộc hay vùng địa lý.

Triệu chứng bệnh xuất hiện  khi gặp các “yếu tố kích thích” như chấn thương, nhiễm trùng, mệt mỏi, nhổ răng, phẫu thuật hoặc căng thẳng. Bệnh nhân thường gặp các đợt phù không đối xứng, không ngứa, ấn không lõm. Phù xuất hiện ở mặt, tứ chi, cơ quan sinh dục, vùng bụng hoặc đường thở. Nếu tình trạng phù xảy ra ở niêm mạc ruột sẽ gây ra đau bụng, buồn nôn, nôn ói. Nếu phù nề đường hô hấp, có thể gây ra triệu chứng khó thở. Đợt phù mạch nặng dần trong 1 đến 2 ngày đầu, kéo dài rồi tự thoái lui trong một vài ngà tiếp theo.

Biểu hiện phù của bệnh đa dạng, ít đặc hiệu, ngoài ra khá hiếm gặp nên bệnh thường dễ chẩn đoán lầm dễ lầm lẫn với nhiều bệnh lý về da khác – nhất là dị ứng, mề đay. Để xác định bệnh, cần phải nghĩ tới bệnh và làm các xét nghiệm liên quan đến số lượng và chất lượng C1-INH.

Một số yếu tố như bệnh xuất hiện sớm từ thời đi học (6-20 tuổi), tiền sử phù ở nhiều vị trí khác nhau tự thoái lui tái đi tái lại, tiền sử gia đình nhiều người thân mắc bệnh tương tự, hoặc hồng ban dát (không gồ trên bề mặt da) không ngứa trước đợt phù có thể giúp gợi ý chẩn đoán.

 

Hình: Biểu hiện của phù mạch di truyền ở mặt (Loạt hình A: trái: bình thường, giữa: phù mắt, phải: phù môi) và tay (B: tay trái: bình thường, tay phải: phù mạch)

Dẫn lại từ Manning, Michael. (2021). Recognition and Management of Hereditary Angioedema: Best Practices for Dermatologists. Dermatology and Therapy. 11. 10.1007/s13555-021-00593-x.

 

Hình 2: Trước và sau phù mặt ở bệnh nhân phù mạch di truyền

Nguồn: US Hereditary Angioedema Association - www.haeimages.com

 

IV. Đây có phải là bệnh nguy hiểm?

Triệu chứng phù thường tự xuất hiện và thoái lui không để lại sẹo hay di chứng, nên phù mạch di truyền chủ yếu ảnh hưởng thẩm mỹ và làm giảm chất lượng cuộc sống.

Triệu chứng đường tiêu hóa của bệnh lý này (đau bụng, buồn nôn, nôn ói,…)  – có thể rất nghiêm trọng và gây lầm lẫn với bệnh lý đau bụng cấp cứu như đau ruột thừa và bệnh nhân có thể phải chịu phẫu thuật không cần thiết. Phù mạch di truyền có cơ chế bệnh sinh khác với dị ứng, do đó, các thuốc điều trị dị ứng thông thường kém hiệu quả với bệnh, gây hao tốn tiền bạc và công sức của bệnh nhân.

Tuy nhiên, phù mạch di truyền có thể gây nguy hiểm tới tính mạng khi phù mạch xảy ra ở thanh quản. Khi đó mô thanh quản phù nề chèn ép làm tắc nghẽn đường thở, gây khó thở nặng và ngạt thở một cách nhanh chóng. Mặc dù phù thanh quản gặp trong chưa tới 1% tổng số đợt bệnh, nhưng mọi bệnh nhân đều có nguy cơ gặp phải biến chứng này. Nghiên cứu cho thấy hơn một nửa bệnh nhân gặp phải phù thanh quản trong cả quãng đời của họ. Do đó, bệnh nhân cần được chẩn đoán, tuân thủ các liệu pháp điều trị dự phòng để tránh đợt phù mạch nguy hiểm tới tính mạng.

 

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3519267/

https://link.springer.com/article/10.1007/s12016-016-8553-8#citeas

https://allergy.org.au/images/docs/ASCIA_HP_Position_Paper_HAE_2022.pdf

Manning, Michael. (2021). Recognition and Management of Hereditary Angioedema: Best Practices for Dermatologists. Dermatology and Therapy. 11. 10.1007/s13555-021-00593-x. https://www.researchgate.net/publication/354221789_Recognition_and_Management_of_Hereditary_Angioedema_Best_Practices_for_Dermatologists/citation/download

 

Tài liệu này được hỗ trợ bởi công ty Takeda

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

  1. Đo điện tâm đồ gắng sức là gì?

Điện tâm đồ gắng sức là nghiệm pháp mà bạn sẽ được yêu cầu gắng sức nhằm đẩy quả tim làm việc đến mức tối đa có thể. Gắng sức có thể bằng cách chạy trên thảm lăn, đạp trên xe đạp lực kế. Khi gắng sức tối đa cơ tim cần nhiều máu cung cấp hơn nên nếu có hẹp động mạch vành tình trạng thiếu máu cơ tim sẽ biểu hiện ra và được phát hiện bằng các thay đổi trên điện tâm đồ.

Nghiệm pháp gắng sức tim mạch hô hấp (CPET: Cardiopulmonary Exercise Testing)  là một xét nghiệm đánh giá đồng thời hệ thống tim mạch và hô hấp trong suốt thời gian bạn vận động gắng sức. Nghiệm pháp gắng sức tim mạch hô hấp sẽ giúp phát hiện bạn có bệnh tim mạch hay hô hấp nào tiềm ẩn không khi mà bạn đã được làm các xét nghiệm đánh giá chức năng hô hấp, tim mạch khi nghỉ ngơi không phát hiện được. Sự kết hợp các dữ liệu kết quả về hô hấp, tim mạch và khí máu động mạch sẽ giúp bác sĩ của bạn có nhiều thông tin chẩn đoán và tiên lượng bệnh cho bạn nhất là khi bạn có đồng thời cả bệnh tim và phổi.

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ BỆNH COVID-19

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Các vấn đề về hô hấp ở người lớn bị bệnh suy nhược cơ thần kinh

Các bệnh cơ thần kinh có thể gây ra yếu cơ hô hấp, dẫn đến các vấn đề về hô hấp. Khó thở thường được nhận thấy đầu tiên khi nằm thẳng chân và khi ngủ. Điều quan trọng là phải điều trị sớm. Bạn nên biết những gì cần tìm và những gì cần nói với bác sĩ để được điều trị thích hợp. Bạn cũng có thể phát sinh các vấn đề về hô hấp nghiêm trọng và không có nhiều triệu chứng. Bác sĩ sẽ làm các xét nghiệm để kiểm tra chức năng phổi và theo dõi hô hấp của bạn.

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

NHIỄM COVID-19, CÚM VÀ CÁC BỆNH HÔ HẤP KHÁC

SARS-CoV-2 là virus gây ra nhiễm trùng COVID-19. Bạn có thể bị bệnh với nhiều virus cùng một lúc. Khi đại dịch SARS-CoV-2 tiếp diễn, bệnh cúm và các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác cũng sẽ xuất hiện trong cộng đồng. Nhiễm trùng đường hô hấp có thể biểu hiện các triệu chứng tương tự và tất cả đều có thể lây lan từ người sang người. Thật khó để nói virus nào hoặc vi khuẩn nào đang gây bệnh cho một người nếu chỉ dựa vào các triệu chứng. Đôi khi, xét nghiệm là cần thiết để xem virus nào hoặc vi khuẩn nào hiện diện. Các xét nghiệm này thường liên quan đến việc lấy mẫu phết mũi và/hoặc họng, vì hầu hết các virus này hiện diện với số lượng lớn ở phía sau mũi và họng. Vẫn còn rất nhiều điều để tìm hiểu về nhiễm COVID-19 và nghiên cứu đang được tiến hành.

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

GIẤC NGỦ LÀNH MẠNH Ở TRẺ EM

Giấc ngủ cần thiết cho sức khỏe thể chất và tinh thần, cũng như sự tăng trưởng và phát triển bình thường của con bạn. Ngủ đủ giấc và chất lượng tốt tác động tích cực đến chất lượng cuộc sống, trí nhớ, sự học tập, sự tập trung và hành vi của con bạn. Do đó, điều quan trọng là phải tập thói quen ngủ tốt ngay từ sớm trong cuộc đời của con bạn.

 Vì sao người ta ngáy ?

1.    Hiện tượng ngáy có thể xảy ra khi thở bằng miệng. Khi hít vào bằng miệng, luồng không khí làm rung lưỡi gà và vòm khẩu mềm vốn nằm giữa thành họng và đáy lưỡi. Sự rung động này gây ra tiếng ngáy

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

TẬP THỂ DỤC VỚI BỆNH PHỔI.

Tập thể dục (Vận động – Exercise) thường xuyên là một phần của lối sống lành mạnh, nhưng nếu bạn bị bệnh phổi, bạn có thể tự hỏi liệu mình có thể hoặc nên tập thể dục hay không.

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

 

Trong giai đoạn COVID-19 này, điều đặc biệt quan trọng là tất cả mọi người mắc bệnh phổi mạn tính, như hen suyễn hoặc COPD, phải bảo vệ phổi của họ.

 

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

HỘI LỒNG NGỰC HOA KỲ

Thông tin dành cho bệnh nhân

CƠN KHÓ THỞ ĐỘT NGỘT

Cơn khó thở đột ngột xảy ra khi khó thở đến nhanh, nặng nề và không biến mất. Nó khiến bạn, gia đình bạn và người chăm sóc khác rất lo lắng.

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

(Bài viết được lược dịch từ bài blog được đăng trên website Junior Members Research and Clinical Blog, European Academy of Allergy and Clinical Immunology. Các khuyến cáo đã được thay đổi để phù hợp tình hình và chủ trương của Bộ Y tế Việt Nam. Nguồn: https://patients.eaaci.org/coronavirus-infection-and-asthma-what-do-we-know/)

Một số nguồn tin cho rằng nên tránh sử dụng corticosteroid trong khi dịch COVID-19. Lời khuyên này là về việc sử dụng các corticosteroid dạng uống, ngoại trừ khi có chỉ định rõ ràng về việc sử dụng chúng. Tuy nhiên, bệnh nhân hen suyễn không nên ngừng thuốc kiểm soát corticosteroid dạng hít đã kê toa (hoặc các thuốc corticosteroid dạng uống đã kê toa). Ngừng các corticosteroid dạng hít thường có nguy cơ dẫn đến hen suyễn trở nặng một cách nguy hiểm và tránh dùng các corticosteroid dạng uống trong các đợt kịch phát hen suyễn nặng có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng. Các corticosteroid dạng uống dài hạn đôi khi được yêu cầu để điều trị hen suyễn nặng và có thể nguy hiểm nếu ngưng đột ngột. Phải luôn luôn thảo luận với bác sĩ hoặc điều dưỡng trước khi ngừng bất kỳ loại thuốc hen suyễn nào.

Tiến sĩ Ricki Lewis

17 tháng 3 năm 2020                            

Coronavirus mới, SARS-CoV-2, vẫn sống trong các giọt li ti (aerosols) trong nhiều giờ và trên các bề mặt trong nhiều ngày, theo một nghiên cứu mới.

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Có hai loại viêm mũi: dị ứng và không dị ứng.

Viêm mũi dị ứng

Nếu bạn bị viêm mũi dị ứng, hệ thống miễn dịch của bạn xác định nhầm một chất thường vô hại là một kẻ xâm nhập. Chất này được gọi là dị nguyên. Hệ thống miễn dịch phản ứng với dị nguyên bằng cách giải phóng histamine và các chất trung gian hóa học vốn thường gây ra các triệu chứng ở mũi, họng, mắt, tai, da và vòm miệng.

 Nếu bạn bị nghẹt mũi, ấn đau ở mặt, ho và chảy nước mũi đặc, bạn có thể bị viêm mũi xoang, được gọi là viêm xoang.

 Các xoang của bạn là những hố rỗng trong xương gò má, quanh mắt và sau mũi. Xoang chứa chất nhầy, giúp làm ấm, làm ẩm và lọc khí thở. Khi chất nhầy bị chặn không chảy ra được như bình thường, nhiễm trùng có thể xảy ra.

Thường mỗi khi tới dịp gần tết là trẻ em rất hay bị các bệnh về đường hô hấp, mà thường nhất là cứ sụt sịt sổ mũi hoài. Lại có nhiều bé thì mỗi sáng ngủ dậy cũng hắt hơi vài chục cái, rồi nước mũi bắt đầu chảy ra như sông như suối. Lại có một số bé thì khi hít phải bụi, khói thuốc lá, khói nhang lại bắt đầu nghẹt mũi, chảy nước mũi. Tất cả những dấu hiệu đó là triệu chứng của một tình trạng viêm mũi. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu xem viêm mũi là gì và có phải viêm mũi nào cũng là do dị ứng, và làm thế nào khi con em chúng ta bị viêm mũi.

Hiện nay, tỉ lệ bệnh dị ứng có xu hướng ngày càng tăng với các loại bệnh rất thường gặp như: Hen phế quản, viêm mũi dị ứng, mày đay, viêm da cơ địa (chàm)…Yếu tố kích phát lên tình trạng dị ứng được gọi là dị nguyên. Có rất nhiều loại dị nguyên như: mạt bụi nhà, lông súc vật, nấm mốc, phấn hoa, thực phẩm, thuốc...Việc xác định nguyên nhân gây dị ứng là điều quan trọng trong điều trị bệnh dị ứng. 

Tổng quan

Phản ứng phụ của thuốc là thường gặp, nhưng mỗi người phản ứng một cách khác nhau. Người này có thể phát ban hoặc các phản ứng khác khi dùng một loại thuốc nào đó, trong khi người khác không hề có phản ứng phụ nào.

 

TS.BS. Phạm Lê Duy
Bộ môn Miễn dịch-Sinh Lý Bệnh, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh
Thư ký khoa học, Hội Hen-Dị ứng & Miễn dịch lâm sàng TP. Hồ Chí Minh
Uỷ viên BCH Hội thành viên trẻ, Tổ chức dị ứng Thế giới

  

Mùa mưa lại đến, và nỗi ám ảnh viêm mũi, viêm xoang ở những người cơ địa dị ứng lại trở về. Bài viết này xin chia sẻ một số thông tin để giúp kiểm soát các bệnh dị ứng hô hấp trong mùa mưa nóng.

Theo các báo cáo tại Hội nghị thường niên năm 2014 tại Boston của Hội Thấp Khớp Học Hoa Kỳ (ACR), tiếp xúc với kháng sinh trong thời thơ ấu làm tăng đáng kể nguy cơ viêm khớp tự phát ở trẻ vị thành niên.

Hãy trả lời các câu hỏi sau để biết bạn có nên đi khám bác sĩ hay không?

Đối với hầu hết mọi người, tiệc tùng là những sự kiện vui vẻ. Nhưng đối với phụ huynh của các trẻ em bị dị ứng thức ăn, hoặc ngay cả đối với người lớn bị dị ứng thức ăn, các hoạt động liên quan đến thức ăn có thể đem lại nhiều sự lo lắng. Đó là do việc tiếp xúc với thức ăn có chất gây dị ứng khả năng gây ra một phản ứng dị ứng nghiêm trọng.

Bệnh Gút là một bệnh lý viêm khớp do rối loạn chuyển hoá các purines (quá trình chuyển hoá các acid nhân của mọi tế bào), một bệnh lý quan trọng nhất trong nhóm các bệnh khớp do tinh thể (Crystal Arthropathies) đưa đến tình trạng tăng acid uric trong máu. Acid uric là một sản phẩm chuyển hóa cuối của chuyển hóa các purin.

Bệnh hen/suyễn không tước đoạt thiên chức làm mẹ của chị em. Phụ nữ bị hen/suyễn vẫn có thể có thai và sinh con một cách bình thường nếu  bệnh hen/suyễn của họ được kiểm soát tốt.

Hen/suyễn là bệnh viêm mạn tính của đường hô  hấp, hiện vẫn chưa thể chữa khỏi nhưng có thể kiểm soát được, nghĩa là người bệnh vẫn có thể chung sống với bệnh một cách "hòa bình" nếu được điều trị đúng mức.‬

1. Giới thiệu

Bệnh cúm là bệnh viêm đường hô hấp cấp tính do nhiều loại vi-rút cúm gây ra và có khả năng lây nhiễm cao. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và thường xảy ra theo mùa. Trong lịch sử có rất nhiều đại dịch cúm làm chết hàng triệu người và ngày nay một số đối tượng vẫn có thể gặp nguy hiểm khi bị cúm như trẻ em, người già, phụ nữ có thai và một số người mắc các bệnh mạn tính.

Nhìn cậu bé 6 tuổi Nguyễn Hữu (Hải Phòng) đang nô đùa vui vẻ với các bạn, ít ai ngờ cháu đã trở thành “gương mặt thân quen” của buồng bệnh 403 khoa Miễn dịch - Dị ứng - Khớp, Bệnh viện Nhi trung ương.

Không khí ô nhiễm

Sống trong môi trường đầy khói bụi sẽ gây hệ lụy cho phổi. Nếu như trước đây bệnh phổi phát sinh phần lớn là do lao, thì hiện nay,

Dị ứng toàn thân vì thuốc

Khi thấy cháu B (ở Hà Nội) bị cảm, sốt, mẹ cháu liền ra hiệu thuốc mua thuốc Paracetamol về cho cháu uống. Sau khi uống thuốc, cháu có biểu hiện đỏ môi và nổi các bọng nước ở tay và chân. Tiếp theo, da cháu bị lở loét, chảy nước như bỏng vôi. Vào viện, các bác sĩ chẩn đoán cháu bị dị ứng thuốc Paracetamol hay còn gọi là hội chứng Steven Johnson.

Phản ứng phụ do thuốc là một tai biến rất thường gặp trong thực hành lâm sàng, gây ảnh hưởng đến khoảng 10% - 20% số người sử dụng thuốc.