Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

 

PHÙ MẠCH DI TRUYỀN

Phù mạch di truyền là một bệnh di truyền ít gặp. Sự sai hỏng của các gene liên quan đến kiểm soát quá trình tạo bradykinin dẫn tới những đợt phù nề do bradykinin dư thừa làm giãn và tăng tính thấm mạch máu, gây ứ đọng dịch trong mô. Mặc dù có vẻ lành tính, đây lại là một bệnh nguy hiểm, vì tình trạng phù nề đột ngột nhanh chóng nếu xảy ra ở đường thở sẽ gây ngạt thở, có thể dẫn tới tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

CHẨN ĐOÁN PHÙ MẠCH DI TRUYỀN

Biểu hiện sưng phù của phù mạch di truyền đa dạng: sưng phù khu trú ở một vùng cơ thể, hoặc tình trạng đau bụng (do phù ruột), hoặc khó thở (do phù nề đường thở). Tình trạng này xuất hiện nhanh, tự phát hoặc khi có yếu tố kích gợi, thường không ngứa. Triệu chứng thường kéo dài 3 đến 5 ngày, sau đó thoái lui. Bệnh có thể biểu lộ từ rất sớm, lúc 2 -3 tuổi. Đa số khởi bệnh trước tuổi 20.

Hình: Các vị trí biểu hiện triệu chứng trong phù mạch

(https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2681197?utm_source=pinterest&utm_medium=social_jama&utm_term=1534736842&utm_content=followers-article_engagement-illustration_medical&utm_campaign=article_alert&linkId=51734304)

 

Vì tình trạng phù nề có thể gặp trong nhiều bệnh khác như dị ứng, cần thực hiện xét nghiệm để chẩn đoán bệnh. Một xét nghiệm quan trọng trong bệnh lý này là xét nghiệm C1-INH trong máu. Dựa vào hoạt tính của C1-INH, phù mạch di truyền được chia thành 3 nhóm: loại 1 (C1-INH máu giảm), loại 2 lượng C1-INH bình thường nhưng bất thường chức năng) và phù mạch di truyền có C1-INH bình thường (bất thường thành phần khác).

Sinh học phân tử đóng góp lớn trong việc chẩn đoán phù mạch di truyền. Giải trình tự gene giúp xác định được gene đột biến gây bệnh. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với phù mạch di truyền có C1-INH bình thường, vì chẩn đoán không thể xác lập chỉ bằng nồng độ C1-INH.

ĐIỀU TRỊ PHÙ MẠCH DI TRUYỀN

Mục đích của điều trị phù mạch di truyền là nhằm tránh nguy cơ tử vong và nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân. Hiện nay điều trị phù mạch di truyền được chia làm 3 nhóm: thuốc điều trị cấp, dự phòng dài hạn và dự phòng ngắn hạn.

Thuốc  điều trị phù mạch di truyền cấp

Các thuốc điều trị  phù mạch di truyền cấp bao gồm Ecallantide, Icatibant (tiêm dưới da) và các chế phẩm C1-INH (truyền tĩnh mạch). Bệnh nhân có thể tự tiêm các thuốc tiêm dưới da tại nhà ngay khi có triệu chứng phù. Theo khuyến cáo, người bệnh nên giữ bên mình 2 liều thuốc để dùng ngay khi cần. Thông thường sưng phù sẽ thoái lui sau khi dùng thuốc từ 120 – 150 phút. Tuy nhiên, khi có sưng phù ở đường thở, hầu họng, lưỡi, người bệnh vẫn cần đến khám ngay tại cơ sở y tế mặc dù đã điều trị ở nhà.

 

Hình: vị trí tiêm thuốc vào mô dưới da

Ghi chú: 1, 2: da, 3: mô dưới da, 4: cơ.

(https://phacdodieutri.com/ky-thuat-tiem-duoi-da/)

Dự phòng dài hạn

Điều trị dự phòng dài hạn có nghĩa là bệnh nhân phải dùng thuốc định kỳ đều đặn. Điều này nhằm đạt được kiểm soát hoàn toàn bệnh – chấm dứt các đợt phù. Các thuốc dự phòng dài hạn gồm: các chế phẩm của C1-INH (tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da), Lanadelumab (tiêm dưới da), Stanozolol (uống), Danazol (uống),... Quyết định dự phòng dài hạn dựa trên tần suất cơn, mức độ nặng, điều kiện kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và mong muốn của người bệnh.

Dự phòng ngắn hạn

Stress và chấn thương là 1 trong các yếu tố kích gợi cơn phù mạch di truyền. Do đó, khi bệnh nhân sắp tiến hành các thủ thuật, phẫu thuật, nội soi ống tiêu hóa, nhổ răng, bác sĩ điều trị có thể sẽ cho thuốc dự phòng ngắn hạn. Các thuốc được dùng cho mục đích này gồm chế phẩm C1-INH hoặc chất đồng hợp androgen.

LƯU Ý DÀNH CHO BỆNH NHÂN PHÙ MẠCH DI TRUYỀN

Tránh các yếu tố kích gợi

Nghiên cứu cho thấy một số yếu tố có thể kích thích cơn phù mạch di truyền, như chấn thương, stress tâm lý, mệt mỏi, thuốc ngừa thai đường uống chứa estrogen, và thuốc ức chế men chuyển,... Do đó người bệnh nên hạn chế tối đa các yếu tố trên. Khi dùng thêm thuốc khác, cần hỏi ý kiến của bác sĩ điều trị và phải điều trị dự phòng ngắn hạn trước khi làm thủ thuật, phẫu thuật.

Tầm soát cho người thân

Phù mạch di truyền là bệnh di truyền trội. Điều này có nghĩa là xác suất 50% thế hệ tiếp theo có thể mắc bệnh. Do đó, cha mẹ, anh chị em, con ruột của bệnh nhân phù mạch di truyền nên được tầm soát bằng xét nghiệm gene để phát hiện và theo dõi bệnh từ sớm.

 

Tài liệu tham khảo

Busse PJ, Christiansen SC, Riedl MA, Banerji A, Bernstein JA, Castaldo AJ, Craig T, Davis-Lorton M, Frank MM, Li HH, Lumry WR, Zuraw BL. US HAEA Medical Advisory Board 2020 Guidelines for the Management of Hereditary Angioedema. J Allergy Clin Immunol Pract. 2021 Jan;9(1):132-150.e3. doi: 10.1016/j.jaip.2020.08.046. Epub 2020 Sep 6. PMID: 32898710.

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32898710/

 

Maurer M, Magerl M, Betschel S, Aberer W, Ansotegui IJ, Aygören-Pürsün E, Banerji A, Bara NA, Boccon-Gibod I, Bork K, Bouillet L, Boysen HB, Brodszki N, Busse PJ, Bygum A, Caballero T, Cancian M, Castaldo A, Cohn DM, Csuka D, Farkas H, Gompels M, Gower R, Grumach AS, Guidos-Fogelbach G, Hide M, Kang HR, Kaplan AP, Katelaris C, Kiani-Alikhan S, Lei WT, Lockey R, Longhurst H, Lumry WB, MacGinnitie A, Malbran A, Martinez Saguer I, Matta JJ, Nast A, Nguyen D, Nieto-Martinez SA, Pawankar R, Peter J, Porebski G, Prior N, Reshef A, Riedl M, Ritchie B, Rafique Sheikh F, Smith WR, Spaeth PJ, Stobiecki M, Toubi E, Varga LA, Weller K, Zanichelli A, Zhi Y, Zuraw B, Craig T. The international WAO/EAACI guideline for the management of hereditary angioedema-The 2021 revision and update. Allergy. 2022 Jan 10. doi: 10.1111/all.15214. Epub ahead of print. PMID: 35006617.

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/35006617/

Tài liệu này được hỗ trợ bởi công ty Takeda

 

I. Đôi nét về lịch sử phù mạch di truyền
Năm 1882, bác sĩ người Đức Henrich Irenaeus Quincke báo cáo về một nhóm bệnh nhân mắc một hội chứng chung đặc điểm: phù khu trú ở nhiều vùng khác nhau của cơ thể, xuất hiện một cách thoáng qua và thường không để lại hậu quả nào nếu không ảnh hưởng đến thanh quản. Xuất phát từ báo cáo này, căn bệnh này đôi khi được biết tới với tên gọi phù “Quincke”.

6 năm sau, bác sĩ William Osler báo cáo về trường hợp của một nữ bệnh nhân 24 tuổi bị phù ở mô mềm, không ngứa tự xuất hiện và tự thoái lui sau 1-4 ngày, có khi kèm theo đau bụng buồn nôn, nôn ói và tái đi tái lại. Điều thú vị là cô có 28 người họ hàng trải dài trong 5 thế hệ mắc triệu chứng tương tự. Các nghiên cứu tiếp theo tiếp tục khẳng định đặc điểm di truyền theo gia đình của cắn bệnh này. Từ đó, căn bệnh này chính thức có tên là “phù mạch di truyền”.

II.   Cơ chế đằng sau phù mạch di truyền

Từ cuối thế kỷ XIX, giới khoa học đã đề xuất cơ chế phù là do mạch máu (giải thích cho tên gọi phù “mạch”). Thành mạch máu của cơ thể có các lỗ nhỏ li ti có tác dụng giúp trao đổi chất giữa dòng máu và mô xung quanh. Trong trường hợp phù mạch, mạch máu giãn ra làm các lỗ li ti này mở rộng quá mức, dẫn tới nước trong máu thấm quá nhiều vào các mô xung quanh, gây ra tình trạng phù.


Hình 1: Sơ đồ cơ chế phù trong phù mạch: trạng thái giãn mạch làm dịch thể (mũi tên xanh liền) từ mạch máu đổ ra các mô xung quanh (khoảng kẽ giữa các tế bào) nhiều hơn dòng dịch quay lại dòng máu (mũi tên xanh đứt quãng), gây ra ứ dịch và phù nề mô xung quanh.

 

Tuy nhiên, nguyên nhân sâu hơn vì sao tình trạng này xảy ra vẫn không được hé lộ cho đến thời đại của sinh học phân tử. Ngày nay, chúng ta biết rằng chìa khóa của bệnh lý này nằm ở men C1-INH. Men này vốn có tác dụng ức chế bradykinin (một chất gây giãn mạch). Chính sự sai hỏng trong DNA dẫn tới giảm số lượng hoặc chức năng của men này, làm tăng nguy cơ tích tụ Bradykinin gây phù mạch khi gặp yếu tố kích thích, và kết quả là gây ra đợt phù mạch.

Dựa vào C1-INH, phù mạch di truyền được chia thành 3 nhóm: (1) phù mạch di truyền với số lượng C1-INH giảm, chiếm khoảng 85%, (2) phù mạch di truyền với chức năng C1-INH giảm, chiếm khoảng 15%, (3) phù mạch di truyền với C1-INH bình thường, chiếm dưới 1%.

 III. Biểu hiện của phù mạch di truyền

Phù mạch di truyền là một bệnh tương đối hiếm, gặp phản với tần suất 1/50 000 dân, không thay đổi theo dân tộc hay vùng địa lý.

Triệu chứng bệnh xuất hiện  khi gặp các “yếu tố kích thích” như chấn thương, nhiễm trùng, mệt mỏi, nhổ răng, phẫu thuật hoặc căng thẳng. Bệnh nhân thường gặp các đợt phù không đối xứng, không ngứa, ấn không lõm. Phù xuất hiện ở mặt, tứ chi, cơ quan sinh dục, vùng bụng hoặc đường thở. Nếu tình trạng phù xảy ra ở niêm mạc ruột sẽ gây ra đau bụng, buồn nôn, nôn ói. Nếu phù nề đường hô hấp, có thể gây ra triệu chứng khó thở. Đợt phù mạch nặng dần trong 1 đến 2 ngày đầu, kéo dài rồi tự thoái lui trong một vài ngà tiếp theo.

Biểu hiện phù của bệnh đa dạng, ít đặc hiệu, ngoài ra khá hiếm gặp nên bệnh thường dễ chẩn đoán lầm dễ lầm lẫn với nhiều bệnh lý về da khác – nhất là dị ứng, mề đay. Để xác định bệnh, cần phải nghĩ tới bệnh và làm các xét nghiệm liên quan đến số lượng và chất lượng C1-INH.

Một số yếu tố như bệnh xuất hiện sớm từ thời đi học (6-20 tuổi), tiền sử phù ở nhiều vị trí khác nhau tự thoái lui tái đi tái lại, tiền sử gia đình nhiều người thân mắc bệnh tương tự, hoặc hồng ban dát (không gồ trên bề mặt da) không ngứa trước đợt phù có thể giúp gợi ý chẩn đoán.

 

Hình: Biểu hiện của phù mạch di truyền ở mặt (Loạt hình A: trái: bình thường, giữa: phù mắt, phải: phù môi) và tay (B: tay trái: bình thường, tay phải: phù mạch)

Dẫn lại từ Manning, Michael. (2021). Recognition and Management of Hereditary Angioedema: Best Practices for Dermatologists. Dermatology and Therapy. 11. 10.1007/s13555-021-00593-x.

 

Hình 2: Trước và sau phù mặt ở bệnh nhân phù mạch di truyền

Nguồn: US Hereditary Angioedema Association - www.haeimages.com

 

IV. Đây có phải là bệnh nguy hiểm?

Triệu chứng phù thường tự xuất hiện và thoái lui không để lại sẹo hay di chứng, nên phù mạch di truyền chủ yếu ảnh hưởng thẩm mỹ và làm giảm chất lượng cuộc sống.

Triệu chứng đường tiêu hóa của bệnh lý này (đau bụng, buồn nôn, nôn ói,…)  – có thể rất nghiêm trọng và gây lầm lẫn với bệnh lý đau bụng cấp cứu như đau ruột thừa và bệnh nhân có thể phải chịu phẫu thuật không cần thiết. Phù mạch di truyền có cơ chế bệnh sinh khác với dị ứng, do đó, các thuốc điều trị dị ứng thông thường kém hiệu quả với bệnh, gây hao tốn tiền bạc và công sức của bệnh nhân.

Tuy nhiên, phù mạch di truyền có thể gây nguy hiểm tới tính mạng khi phù mạch xảy ra ở thanh quản. Khi đó mô thanh quản phù nề chèn ép làm tắc nghẽn đường thở, gây khó thở nặng và ngạt thở một cách nhanh chóng. Mặc dù phù thanh quản gặp trong chưa tới 1% tổng số đợt bệnh, nhưng mọi bệnh nhân đều có nguy cơ gặp phải biến chứng này. Nghiên cứu cho thấy hơn một nửa bệnh nhân gặp phải phù thanh quản trong cả quãng đời của họ. Do đó, bệnh nhân cần được chẩn đoán, tuân thủ các liệu pháp điều trị dự phòng để tránh đợt phù mạch nguy hiểm tới tính mạng.

 

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3519267/

https://link.springer.com/article/10.1007/s12016-016-8553-8#citeas

https://allergy.org.au/images/docs/ASCIA_HP_Position_Paper_HAE_2022.pdf

Manning, Michael. (2021). Recognition and Management of Hereditary Angioedema: Best Practices for Dermatologists. Dermatology and Therapy. 11. 10.1007/s13555-021-00593-x. https://www.researchgate.net/publication/354221789_Recognition_and_Management_of_Hereditary_Angioedema_Best_Practices_for_Dermatologists/citation/download

 

Tài liệu này được hỗ trợ bởi công ty Takeda

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

THÔNG TIN DÀNH CHO BỆNH NHÂN