Bệnh phổi sau lao là vấn đề rất lớn, tác động đến nhiều bệnh nhân lao, ước tính 50%-80% bệnh nhân mắc bệnh phổi sau lao. Di chứng lâu dài, làm suy khả năng lao động. Theo báo cáo vào năm 2024, có 10.7 triệu ca lao toàn cầu. Mặc dù đã khỏi bệnh tật về mặt vi khuẩn học, hàng triệu người vẫn tiếp tục sống với những hậu quả mạn tính.

Ths.BS Trần Thị Kim Thu và các bác sĩ tham dự buổi sinh hoạt

Ngày 12 tháng 6, Phòng khám đa khoa CHAC tổ chức sinh hoạt chuyên môn với chủ đề “Tập huấn nghiên cứu bệnh phổi sau lao” với các bác sĩ của nhóm nghiên cứu FIT. Ths.BS Trần Thị Kim Thu, Phụ trách chuyên môn và các bác sĩ, điều dưỡng của phòng khám đã tham dự.

Phát biểu mở đầu, Ths.BS Trần Thị Kim Thu nhấn mạnh đến bốn vấn đề lớn trong nghiên cứu: Tổn thương cấu trúc phổi vĩnh viễn, những vết sẹo cơ học như xơ phổi, giãn phế quản, suy giảm chức năng hô hấp, thể hiện qua FEV1, FVC trong kết quả đo hô hấp ký, nguy cơ nhiễm trùng cơ hội, nấm phổi, tái phát lao, tác động tâm lý và suy giảm chất lượng cuộc sống, dễ bị kỳ thị lao còn lây.

Ths.BS Trần Thị Kim Thu trao đổi với đại diện nhóm

Gánh nặng kinh tế và tâm lý xã hội của bệnh phổi sau lao

Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, việc đánh giá dựa vào ước tính kinh tế và mức độ ổn định tài chính thông qua chi phí của người bệnh và gia đình, chi phí thảm họa và khả năng phục hồi tài chính. Bên cạnh đó, việc đánh giá sức khỏe tâm thần, mức độ hòa nhập xã hội, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và tình trạng an sinh tổng thể.

Tác động của bệnh phổi sau lao

Chia sẻ thêm về vấn đề này, BS nội trú.CKI.Nguyễn Thị Hân, đại diện nhóm nghiên cứu cho biết: “Có những di chứng sau lao mà nó không bao giờ khỏi, người bệnh phải mang theo mình suốt đời, Có những nơi lên tới 40% hoặc cao hơn là 80%. Bác sĩ phải có những chẩn đoán, điều trị kịp thời thì mới có thể ngăn ngừa được những di chứng sau lao. Ngoài ra, cần phải có các phương pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng hô hấp hoặc nghiên cứu các thuốc có khả năng cải thiện các chỉ số về chức năng hô hấp.”

Bệnh phổi sau lao gây suy giảm chức năng hô hấp và các chỉ số hô hấp như FEV1, FVC, FEV1/FVC, khả năng khuếch tán CO, tổng dung tích phổi. Gây ra các triệu chứng hô hấp mạn tính như ho, khó thở, thớ khò khè, kèm theo hạn chế hoạt động trong cuộc sống, kéo dài ít nhất 8 tuần ở người lớn và 4 tuần ở trẻ em.


Ý nghĩa của nghiên cứu đến cộng đồng tại Việt Nam

BS.CKI nội trú. Nguyễn Thị Hân trình bày

Cũng theo BS.Hân, Việt Nam hiện có 184.000 người mắc lao hằng năm, ước tính có 50% bệnh phổi sau lao. Điều này tác động rất lớn đến cuộc sống của người bệnh sao lao, đặc biệt là lao động chính của các hộ gia đình ở nước ta.

Trình bày về đề tài, Ths.BS Trần Thị Kim Thu, Đại diện phòng khám CHAC nhấn mạnh, nghiên cứu mang lại cho người bệnh sau lao. Dù dự báo quá trình đo hô hấp ký sẽ gặp không ít thách thức do người bệnh thường bị ho, khó thở và khó thực hiện các động tác gắng sức. Phòng khám CHAC cam kết sẽ nỗ lực hết sức mình, đồng hành sát sao cùng bệnh nhân để mang lại những kết quả chính xác và chất lượng nhất.

Ths.BS Trần Thị Kim Thu, điều dưỡng, kỹ thuật viên thảo luận với đại diện nhóm nghiên cứu

Các hoạt động trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu, người đã mắc bệnh Lao trước đây sẽ được: Khảo sát chất lượng cuộc sống (SGRQ): Sự khó thở và hạn chế gắng sức ảnh hưởng đến sinh hoạt, đời sống hằng ngày (ví dụ: khả năng tự tắm rửa, mặc quần áo, đi bộ, làm việc nhà.). , các tác động tâm lý như cảm giác lo lắng, bối rối nơi công cộng. Người tham gia được đo Hô hấp ký để đánh giá mức độ nghiêm trọng của các tổn thương nhu mô phổi do di chứng Lao. Đồng thời phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường nghi ngờ lao tái phát. Và tầm soát nhiễm nấm cơ hội Aspergillus.

 “Thể trạng suy yếu. Vì vậy, người bệnh bị ho dai dẳng, khó thở, dễ rơi vào trầm cảm, lo âu, tự ti khi giao tiếp công cộng. Họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế gia đình.” Ths.BS Trần Thị Kim Thu kết luận.

Tin và ảnh: Trần Thanh Lộc