Phát biểu tại hội nghị, PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Hải, Giám đốc Bệnh viện Nhân dân Gia Định, cho biết nội dung các báo cáo tại từng phiên chuyên khoa được tinh gọn nhưng vẫn bao quát những vấn đề đang được quan tâm trong thực hành lâm sàng, đồng thời định hướng các giải pháp nhằm tối ưu hóa nguồn lực y khoa trong chăm sóc người bệnh.

PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Hải, Giám đốc Bệnh viện Nhân dân Gia Định, phát biểu khai mạc hội nghị

Ảnh: Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Toàn cảnh phiên Nội Hô hấp

Ngày 1/8/2026, Hội nghị Khoa học kỹ thuật thường niên Bệnh viện Nhân dân Gia Định được tổ chức. Trong khuôn khổ hội nghị, hai phiên Nội Hô hấp với chủ đề “Y học chính xác trong quản lý bệnh đường dẫn khí mạn tính 2026” diễn ra dưới sự chủ tọa của PGS.TS.BS Trần Văn Ngọc, Chủ tịch Hội Hô hấp Thành phố Hồ Chí Minh; PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan, Chủ tịch Hội Hen – Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng Thành phố Hồ Chí Minh; và TS.BS Lê Thị Thu Hương, Trưởng khoa Nội Hô hấp, Bệnh viện Nhân dân Gia Định.

PGS.TS.BS Trần Văn Ngọc phát biểu khai mạc Phiên Nội Hô hấp

Sau phần phát biểu khai mạc của PGS.TS.BS Trần Văn Ngọc, các đại biểu được nghe các chuyên đề: “Ca lâm sàng mở màn: Khi điều trị ‘one-size-fits-all’ không còn phù hợp trong quản lý bệnh đường dẫn khí mạn tính” của ThS.BSNT Trần Minh Huy; “Điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) theo mục tiêu: Cập nhật GOLD 2026 và mô hình y học chính xác” của PGS.TS.BS Trần Văn Ngọc; “Đồng thuận đa chuyên khoa trong quản lý COPD có bệnh tim mạch đồng mắc” của TS.BS Lê Thị Thu Hương; “Đơn giản hóa điều trị COPD trong thực hành: Từ dược lý phân tử đến hiệu quả đời thực” của TS.DS Phạm Hồng Thắm; và “Hen nặng theo kiểu hình và đặc điểm có thể điều trị: Thuyên giảm lâm sàng và lựa chọn thuốc sinh học tối ưu theo GINA 2026, EAACI” của PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan.

Tại Phiên Nội Hô hấp 2, các đại biểu tiếp tục được nghe các bài: “Dấu ấn hình ảnh định lượng trong hen phế quản nặng: Mucus Plug Score, Gas-Trapping Index và định hướng dự đoán đáp ứng thuốc sinh học” của BS.CKII Bùi Khắc Vũ; “Béo phì, hội chứng chuyển hóa và bệnh phổi mạn tính: Từ cơ chế adipokine đến vai trò tiềm năng của thuốc đồng vận thụ thể GLP-1” của BS.CKII Hồ Quốc Khải; “RSV ở người lớn và người bệnh hô hấp mạn tính: Từ gánh nặng bị đánh giá thấp đến chiến lược dự phòng tích hợp 2026” của TS.BS Lê Thị Thu Hương; và “Hen nặng và COPD đa bệnh đồng mắc tại bệnh viện tuyến cuối: Phối hợp chăm sóc chính xác từ nhận diện sớm đến quản lý dài hạn” của TS.BS Cao Thị Mỹ Thúy.

Hen nặng theo kiểu hình và đặc điểm có thể điều trị: Thuyên giảm lâm sàng và lựa chọn thuốc sinh học tối ưu theo GINA 2026, EAACI

Chia sẻ về bức tranh hen phế quản tại Việt Nam, PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan cho biết tỷ lệ hen ở người từ 16 tuổi trở lên là 4,1%; chỉ 29,1% người bệnh hen sử dụng thuốc kiểm soát và 39,7% đạt kiểm soát hen tốt. Bên cạnh đó, dữ liệu được trình bày cho thấy vẫn còn tình trạng sử dụng corticosteroid đường uống, thuốc chủ vận beta-2 tác dụng ngắn đường uống và LABA không phối hợp corticosteroid dạng hít chưa phù hợp với khuyến cáo; đồng thời, 66% người bệnh hen đến khám tại một cơ sở y tế tuyến cuối chưa được kiểm soát.

Bức tranh hen phế quản tại Việt Nam

Biểu đồ tỷ lệ hen nặng và chi phí y tế trực tiếp trong điều trị hen

Về hen nặng tại Việt Nam, PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan cho biết, các ước tính hiện có cho thấy hen nặng chiếm khoảng 7–11% số người bệnh hen; kiểu hình dị ứng và các bệnh lý mũi xoang đồng mắc cũng khá thường gặp. Gánh nặng bệnh không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống mà còn làm gia tăng chi phí điều trị cho người bệnh, gia đình và hệ thống y tế.

PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan trình bày

Một nội dung khác được PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan đề cập là thuyên giảm hen. Đây là mục tiêu dài hạn đang được quan tâm, hướng đến kiểm soát bệnh bền vững và toàn diện. Dù tiêu chí cụ thể còn khác nhau giữa các khung đồng thuận, thuyên giảm lâm sàng thường được đánh giá trong ít nhất 12 tháng dựa trên nhiều phương diện: không có đợt cấp, không sử dụng corticosteroid toàn thân, triệu chứng được kiểm soát tốt và chức năng phổi ổn định hoặc được tối ưu hóa.

Theo một số khung đồng thuận, Khái niệm thuyên giảm hoàn toàn còn đòi hỏi thêm bằng chứng khách quan về sự lui của viêm đường thở và, khi phù hợp, không còn tăng đáp ứng phế quản. Thuyên giảm khi đang điều trị cần được phân biệt với thuyên giảm không cần điều trị; vì vậy, không nên diễn giải thuyên giảm đồng nghĩa với khỏi bệnh hoặc tự ý ngưng thuốc.

PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan cho biết, cùng với sự phát triển của các phương pháp điều trị, mục tiêu quản lý hen đã chuyển từ giảm triệu chứng và phòng ngừa đợt cấp sang hướng tới các kết cục dài hạn hơn. Các thuốc sinh học nhắm trúng đích vào những con đường viêm đặc hiệu có thể giúp một tỷ lệ người bệnh hen nặng đạt thuyên giảm lâm sàng khi đang điều trị.

Kết luận chuyên đề, PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan nhấn mạnh: “Hen phế quản nặng là bệnh lý không đồng nhất; các kiểu hình (phenotype) và cơ chế bệnh sinh (endotype) có thể chồng lấp, đòi hỏi cách tiếp cận vượt ra ngoài phân loại T2 và non-T2 truyền thống.”

Việc hiểu rõ endotype, đánh giá đa chiều các dấu ấn sinh học và nhận diện các đặc điểm có thể điều trị (treatable traits) giúp cá thể hóa điều trị, tối ưu hóa lựa chọn thuốc sinh học và nâng cao khả năng đáp ứng.

Trong kỷ nguyên điều trị đích, mục tiêu quản lý hen nặng không chỉ dừng ở kiểm soát triệu chứng và giảm đợt cấp mà còn hướng tới thuyên giảm lâm sàng (clinical remission), phản ánh sự kiểm soát bệnh bền vững và toàn diện.

Tezepelumab là một trong các thuốc sinh học điều trị hen nặng. Các phân tích hậu kiểm từ thử nghiệm lâm sàng cho thấy một tỷ lệ người bệnh có thể đạt thuyên giảm lâm sàng khi đang điều trị; dữ liệu đời thực cũng ghi nhận cải thiện kiểm soát bệnh. Tuy nhiên, tiêu chí thuyên giảm khác nhau giữa các nghiên cứu và đáp ứng cần được đánh giá toàn diện ở từng người bệnh.

Các bác sĩ tham dự Phiên Nội Hô hấp

RSV ở người lớn và người bệnh hô hấp mạn tính: Từ gánh nặng bị đánh giá thấp đến chiến lược dự phòng tích hợp 2026

Trình bày chuyên đề, TS.BS Lê Thị Thu Hương cho biết virus hợp bào hô hấp (RSV) ở người lớn vẫn là một “điểm mù” trong chẩn đoán: biểu hiện thường không đặc hiệu, ít được nghĩ đến; khả năng phát hiện còn phụ thuộc thời điểm lấy mẫu và phương pháp xét nghiệm. Vì vậy, khi tăng cường cảnh giác và xét nghiệm phù hợp, gánh nặng bệnh có thể được nhận diện rõ hơn. TS.BS Lê Thị Thu Hương dẫn số liệu ước tính năm 2019 ở người từ 60 tuổi trở lên tại các quốc gia thu nhập cao: khoảng 5,2 triệu ca nhiễm trùng hô hấp cấp liên quan RSV, 470.000 ca nhập viện và 33.000 ca tử vong nội viện; tỷ lệ tử vong trong số ca nhập viện khoảng 7,1%.

TS.BS Lê Thị Thu Hương trình bày

Từ đó, TS.BS Lê Thị Thu Hương nhấn mạnh RSV ở người lớn không nên bị xem là bệnh hiếm, đặc biệt ở người cao tuổi và người có bệnh nền. Người bệnh hô hấp mạn tính là nhóm đặc biệt dễ tổn thương vì RSV có thể khởi phát đợt cấp COPD hoặc hen, đồng thời làm tăng nguy cơ mất bù tim – phổi ở người có dự trữ chức năng hạn chế. Hiện nay, vắc-xin RSV đã tạo thêm một công cụ dự phòng chủ động cho một số nhóm người lớn theo tuổi, nguy cơ và chỉ định hiện hành; tiêm chủng là một lớp bảo vệ bổ sung, không thay thế điều trị nền. “Chúng ta cần lồng ghép tư vấn dự phòng RSV, cúm và các vắc-xin khác vào mỗi lần khám ổn định hoặc sau đợt cấp; một câu hỏi trong mỗi lần khám có thể góp phần thay đổi quỹ đạo bệnh”, TS.BS Lê Thị Thu Hương kết luận.

Sau phần trình bày, các đại biểu và báo cáo viên đã trao đổi, thảo luận sôi nổi về những vấn đề thường gặp trong thực hành lâm sàng.

Một bác sĩ tham dự đặt câu hỏi thảo luận

 

TS.BS Lê Thị Thu Hương trả lời câu hỏi thảo luận

 

Tin và ảnh: Trần Thanh Lộc